7 loài hoa trà camellia được phát hiện gây bất ngờ tại Việt Nam

Phát hiện thêm bốn loài hoa trà mới ở khu vực Tây nguyên và Đông Nam Bộ cùng với hai phân chi thực vật mới Camellia sect. Capitatae Orel. và Camellia sect. Pierrea.

Trong khuôn khổ chương trình hợp tác quốc tế nghiên cứu khoa học về đa dạng sinh học của nhóm các nhà thực vật học thuộc Vườn thực vật Hoàng gia Úc và Viện Sinh thái học Miền Nam trực thuộc Viện Hàn lâm KHCNVN, 4 loài thực vật hoa Trà mới thuộc họ Trà (Theaceae):Camellia duyana; C. ligustrina; C. bugiamapensis; và Camellia capitata đã được tìm thấy trong những cánh rừng sâu trên cao nguyên Lang Biang khu vực Nam Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Những mô tả chi tiết và phân tích dẫn liệu hình thái giải phẫu học của những mẫu mới này cho thấy có những đặc điểm rất khác biệt so với những loàiCamellia đã biết từ trước đến nay. Và hơn thế nữa, hai trong số đó đã sở hữu được những tính chất chuyên biệt hơn, làm cơ sở cho việc thành lập thêm 02 phân chi thực vật mới: Camellia sect. Capitatae Orel. và Camellia sect. Pierrea Orel. Công trình vừa mới được công bố và xuất bản trên tạp chí khoa học “A Journal for Botanical Nomenclature, 23(3):307-318. 2014.


Trên thế giới hiện nay có khoảng 80% các loài hoa Trà (Theacae) thuộc chi Camellia L. được tìm thấy tại Trung Quốc và hầu hết số loài còn lại được ghi nhận là phân bố tại các vùng địa lý của Việt Nam. Có khoảng 26 loài trong số 20% còn lại là loài hoa Trà đặc hữu của Việt Nam và 17 loài khác có phạm vi phân bố rộng hơn trải dài từ Việt Nam, Trung Quốc qua Lào và Myamar (Tran, 2002). Tuy nhiên, những khảo sát điều tra hệ thực vật Việt Nam gần đây cho thấy có nhiều phát hiện mới về các loài hoa Trà bản địa trong chiCamellia L. tại VQG Tam Đảo và vùng lân cận, cũng như xuất hiện tại cao nguyên Đà Lạt và vùng núi Lang Biang của Lâm Đồng. Bốn loài hoa Trà mới phát hiện và công bố này là một kết quả rất ngạc nhiên về sự giàu có về tài nguyên và tính đa dạng sinh học của hệ thực vật Việt Nam.

1. Camellia duyana Orel, Curry & Luu, sp. nov

Loài Camellia duyana là loại cây gỗ nhỡ lâu năm, phân cành mạnh, cao từ 12 – 15 m, đường kính gốc thân cây đo được có thể đến 50 cm. Chồi non nhẵn, có màu nâu pha chút đỏ nhạt, chuyển sang màu đỏ tối sậm khi lá sắp trưởng thành. Những cành nhánh trưởng thành thì đồng màu. Lá trưởng thành dạng elip hẹp đến elip, có kích thước dài từ 10–13.5 (14.5) và rộng 3.9–4.7 ( 5) cm. Cuống hoa dài tới 2 cm, rộng 4-5 (6) mm. Hoa dường như đơn độc, không cuống, tận cùng và mọc trong nách lá, không có mùi thơm. Nụ hoa hình cầu, nhiều, dường như có màu xanh với mép ngoại biên màu trắng xanh. Hoa có đường kính từ 6,5 – 7,5 cm, màu trắng hơi đục mờ, có thể dầy lên hơn ở phần trung tâm cánh hoa, 5-8 cánh hoa sắp sếp theo 2 vòng. Nhị hoa nhiều. Mùa ra hoa từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau.

Phân bố: Camellia duyana được biết đến với vị trí phân bố hẹp khoảng 1 km2 tại vị trí rất đặc trưng dưới sườn của một ngọn núi vô danh trên cao nguyên Đà Lạt và hoàn toàn không nằm trong phạm vi bảo vệ của khu bảo tồn hay VQG Bidoup Núi Bà. Loài này mọc xen lẫn với các loài cây khác trong điều kiện thiếu ánh sáng của thảm thực vật rừng mưa nhiệt đới và dường như thích hợp trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, ẩm ướt, mà thoát nước tốt. Những hiểu biết về loài này còn rất hạn chế, không thu được nhiều mẫu do đó cần xem xét và đưa loài mới này vào danh sách những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng mức độ CR của IUCN, 2011 (Critically Endangered).

2. Camellia ligustrina Orel, Curry & Luu, sp. nov

Loài Camellia lingustrina là cây bụi gỗ nhỏ đến nhỡ lâu năm, phân cành mạnh, cao từ 4 – 6 m, đường kính gốc thân cây to đến 25 cm. Chồi non nhẵn, có màu nâu pha chút tím đỏ, có lớp lông mịn màu trắng. Những cành già hơn thì có màu xám nhạt, với lông mịn. Cành trưởng thành không có lông, với màu đỏ tối, chuyển sang màu quế hoặc nâu sáng. Cuống lá ngắn từ 0,3 – 0,5 cm x 1,0 -2,0 mm có lông mịn. Lá non, đang phát triển có màu xanh nhạt, rất dễ nhận thấy, không có lông, dạng elip hẹp đến elip ovan nhẵn và mép lá có răng cưa. Lá trưởng thành hình elip hẹp đến elip, mép có răng cưa, không lông, kích thước từ 8,5 x 2,5 (3,5) cm, hướng trục bề mặt màu xanh đậm. Hoa không có cuống hoặc dường như vậy. Hoa tận cùng dường như đơn độc, thỉnh thoảng mọc theo cặp và không có mùi thơm. Nụ hoa nhiều hình cầu có nhiều lông mịn, dường như màu xanh nâu, nhưng cũng có màu trắng xanh ở ngoại biên. Hoa có đường kính từ 2,5 – 3,5 cm, màu trắng, mềm, dầy hơn ở phần trung tâm cánh hoa, có 5cánh hoa sắp sếp xoắn theo trục dọc. Nhị hoa nhiều. Quả chín hình cầu không đều nhau, dài hơn rộng, thường có 3 hạt. Mùa ra hoa từ tháng 10 đến tháng 12.

Phân bố: Camellia lingustrina được biết đến với vị trí phân bố trong phạm vi không đến 1 km2 tại vị trí rất đặc trưng của cao nguyên Lang Biang, Lâm Đồng với độ cao 1850 m gần đỉnh Lang Biang (2163 m). Loài này phát triển trong điều kiện thiếu ánh sánh của rừng kín mưa ẩm nhiệt đới đặc trưng của VQG Bidoup Núi Bà, thích hợp trên vùng đất nghèo dinh dưỡng, ẩm ướt, thoát nước tốt. Hiện nay, số cá thể trưởng thành của loài này ước chỉ khoảng 50 cá thể và hoàn toàn cần thiết để xem xét và đưa loài mới này vào danh sách những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng mức độ CR của IUCN, 2011 tiêu chuẩn D, (Critically Endangered). Tuy nhiên khu vực này đang nằm trong phạm vi vùng lõi của VQG Bidoup Núi Bà, được bảo vệ nghiêm ngặt nên có thể đưa loài này vào mức độ bị đe dọa cần thiết bảo tồn tiêu chuẩn là EN (Endangered).

Loài mới Camellia ligustrina có những đặc tính rất khác biệt với các loài Camellia khác trong chi Camellia L.; nhị đực vòng ngoài dạng bản lụa, bao phấn của nhị đực có vách mỏng khác thường, vòi nhụy cái xoắn lại, quả dạng hình cầu-elip xù xì. Chính vì sở hữu những đặc tính khác biệt này mà nhóm tác giả đã tách ra thành một chi phụ mới CamelliaL. sect Pierrea Orel, sect. nov. Chi phụ mới này được mang tên Ngài Jean Baptiste Louis Pierre (1833–1905), một nhà thực vật Pháp nổi tiếng, nguyên là nhà sáng lập và giám đốc đầu tiên của Sở Thú và Thảo Cầm Viên Sài Gòn.

3. Camellia bugiamapensis Orel, Curry, Luu & Q. D

Loài Camellia bugiamapensis là dạng cây bụi gỗ nhỏ đến nhỡ lâu năm, phân cành thưa thớt, cao đến 7 m, đường kính gốc thân cây to đến 20 cm. Chồi non nhẵn, có màu xanh nhạt, sau đó chuyển dần từ xám qua màu nâu, nhẵn. Cành trưởng thành đồng màu. Cuống lá cong hình lưỡi liềm, ngắn và dày từ 1 – 1,5(2) cm x 0,3 -0,5 cm, mép có màu xanh nhạt, gần giữa có màu xanh, ở những lá già hơn thì có màu nâu, thỉnh thoảng có thể bần, như một rãnh dài chạy dọc theo trục bên. Lá non đang phát triển màu xanh nhạt, rất dễ nhận thấy, dường như trơn nhẵn, dạng elip đến ovan và mép lá có răng cưa không đều. Lá trưởng thành hình elip đến ovan, và elip rộng, kích thước từ 18 – 27,5 (29,5) x 12 – 14(15) cm, mép lá có răng cưa bất thường không đều. Hoa dường như hình thuôn, mọc ở tận cùng, đơn độc, thỉnh thoảng mọc theo chùm với 3-5 bông nụ. Hoa chín hoặc già cỗi sắp tàn có sự tương phản mạnh mẽ của cách hoa bị bẻ gập ra bên ngoài để lộ phần nhị đực. Nụ hoa không nhiều lắm, hình cầu không đồng đều, màu vàng tối với những vẩy nổi. Hoa có kích thước 4 x 2(2,5) cm, khi chín nhìn toàn bộ hoa như một cái đấu màu vàng rất đẹp, với 9-11 cánh hoa nổi bật bởi sự bẻ gập cánh hoa và sắp sếp lộn xộn không đều nhau. Nhị đực nhiều màu vàng sáng từ 50 – 100 cái. Quả chín hình cầu không đều nhau. Mùa ra hoa từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau.

4. Loài Camellia bugiamapensis Orel, Curry, Luu & Q. D, Anhrh: Lưu Hồng Trường


Phân bố: Camellia bugiamapensis được biết đến với vị trí phân bố trong khoảng không đến 1 km2 tại vị trí rất đặc trưng cách đường biên giới Việt Nam - Campuchia 1km, trong phạm vi của VQG Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước. Loài mới này phát triển trong rừng kín mưa ẩm nhiệt đới đất thấp liền kề hệ thống sông suối. Hiện nay, số cá thể trưởng thành của loài này ước chỉ còn khoảng 50 cá thể và hoàn toàn cần thiết để xem xét và đưa loài mới này vào danh sách những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng mưc độ CR của IUCN, 2011 tiêu chuẩn D, (Critically Endangered). Tuy nhiên khu vực này đang nằm trong phạm vi vùng lõi của VQG Bù Gia Mập, được bảo vệ nghiêm ngặt. cho nên có thể đưa loài này vào mức độ bị đe dọa cần thiết bảo tồn tiêu chuẩn là EN / IUCN, 2011 (Endangered)

5. Camellia capitata Orel, Curry & Luu, sp. nov.

Loài Camellia capitata là dạng cây bụi gỗ nhỏ đến nhỡ lâu năm, phân cành thưa thớt, cao đến 5 m. Chồi non nhẵn, có màu xanh nhạt, sau đó chuyển dần từ xám qua màu nâu, nhẵn. Cành trưởng thành đồng màu. Cuống lá màu xanh đậm, cong hình lưỡi liềm, ngắn và dầy từ 1 – 1,5(1,8) cm X 0,2 -0,4 cm, có lông mịn màu trắng, giữa có một rãnh nông chạy dài chạy dọc theo trục bên. Lá trưởng thành hình elip đến ovan, thỉnh thoảng hình thuôn đến hình trứng ngược. kích thước 24- 27 cm x 10-12 cm. Hoa không cuống, hình tròn, thỉnh thoảng không đều như hình vuông, mọc ở tận cùng, dường như đơn độc, không mùi. Hoa già cỗi sắp tàn có sự tương phản mạnh mẽ của cách hoa bị bẻ gập ra bên ngoài; lá bắc hoa dễ nhận thấy. Nụ hoa nhiều, hình cầu mọc thành từng cụm theo kiểu dạng tán hình cầu không đồng đều chiều dài hơn rộng; Nụ hoa nhô lên trên đỉnh ban đầu với màu đỏ tối với những đường viền mép màu vàng, muộn một chút sau này sẽ chuyển sang màu hơi hơi đỏ nhạt hơn với sắc tố màu vàng. Hoa thất thường, dường như hình vuông đường kính 5-5,5 cm màu vàng nhạt hơi đục, có lớp sáp nhẹ bên ngoài và hơi cứng. Hoa chín với 6 cánh hoa xếp thành 2 vòng, với mép cánh hoa bị bẻ gập bên trong Nhị đực lúc đầu màu vàng sáng, sau đó chuyển sang nâu sáng có hàng 100 cái dài khoảng 1 cm. Mùa ra hoa mới ghi nhận trong tháng 11. Chưa thu được những dẫn liệu khác.


6. Loài Camellia capitata Orel, Curry & Luu, sp. nov., Ảnh: Lưu Hồng Trường

Phân bố: Camellia capitata được biết đến với vị trí phân bố trong khoảng không đến 1 km2 tại vị trí đặc trưng thuộc phía Bắc của VQG Cát Tiên. Loài Camellia capitata được tìm thấy tại thôn 4, xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên, Lâm Đồng, nơi chỉ có người Mạ bản địa cư trú. Loài mới này mọc thành từng đám nhỏ hoặc cây đơn độc phát triển trong rừng mưa ẩm, kín thường xanh hỗn giao tre nứa mưa, trên nền đất ẩm thoát nước nhanh và thiếu ánh sáng.


Mặc dù có nhiều nghiên cứu về thực vật trong khu vực này, nhưng số lượng mẫu thu được rất hạn chế, chỉ có 3 cá thể trưởng thành của loài mới được ghi nhận. Với tình trạng này, hoàn toàn cần thiết để xem xét và đưa loài mới này vào danh sách những loài đang bị đe dọa tuyệt chủng, mức độ CR của IUCN, 2011 tiêu chuẩn D, (Critically Endangered).

7. Loài Camellia capitata Orel, Curry & Luu, sp. nov., Ảnh: Lưu Hồng Trường

Camellia capitata hoàn toàn phân biệt với những loài Camellie khác bởi đặc tính lá hình elip chuyển sang dạng ovan, hoặc từ hình thuôn chuyển sang hình trứng ngược có đầu dưới thu nhỏ hơn. Bao hoa có 2 lá đài với 6 cánh hoa xếp thành 2 vòng. Hoa có nhiều nhị với vòng nhị ngoài đính trong lá đài. Cánh hoa về cơ bản là hợp lại. Camellia capitata có những đặc tính giải phẫu hình thái chuyên biệt rất khác với những gì chúng ta đã biết các loài hoa Camellia màu vàng đã có trước đây của Việt Nam và Trung Quốc. Hoa loài này không cuống và được bao đầy xung quanh bởi 10 cái lá bắc không giống nhau. Đây cũng chính là đặc tính quan trọng nhất để từ mẫu chuẩn Camellia capitata . mà các nhà khoa học đã tách ra thành một phân chi hoàn toàn mới trong hệ thống phân loại của chiCamellia L.


Để biết thêm chi tiết về 4 loài hoa trà mới của Việt Nam, có thể tham khảo tại: Four New Species and Two New Sections of Camellia (Theaceae) from Vietnam
Vũ Ngọc Long, Viện Sinh thái học miền Nam http://sie.vast.vn/




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Giới thiệu bản thân

Ảnh của tôi

We are dedicating my effort to expand Celebrity of my website: http://giupviectheogio.vn and hope that our service will change the mind of vietnamese about maid service, maid people.
Được tạo bởi Blogger.